Tác Dụng Của Tam Thất

1. Bảo vệ tim chống lại những tác nhân gây loạn nhịp
   Chất noto ginsenosid trong tam thất có tác dụng giãn mạch, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tăng khả năng      chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu ôxy (tránh choáng khi mất nhiều máu). Nó cũng ức chế khả năng thẩm        thấu của mao mạch; hạn chế các tổn thương ở vỏ não do thiếu máu gây ra.
2. Cầm máu, tiêu máu, tiêu sưng
    Chữa các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng), tiêu máu ứ (do phẫu thuật, va dập gây       bầm tím phần mềm).
3. Tác dụng với thần kinh
    Dịch chiết rễ tam thất có tác dụng gây hưng phấn thần kinh. Nhưng dịch chất chiết lá tam thất lại có tác        dụng ngược lại: kéo dài tác dụng của thuốc an thần.
4.  Giảm đau
    Dịch chiết của rễ, thân lá, tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.
BÀI THUỐC CHỮA BỆNH TỪ TAM THẤT
1. Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh): Ngày uống 5 g bột tam thất, uống 1 lần, chiêu với cháo loãng hoặc nước ấm.
2. Phòng và chữa đau thắt ngực: Ngày uống 3-6 g bột tam thất (1 lần), chiêu với nước ấm.
3. Chữa thấp tim: Ngày uống 3 g bột tam thất, chia 3 lần (cách nhau 6-8 giờ), chiêu với nước ấm. Dùng trong 30 ngày.
4. Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả ứ máu trong mắt): Ngày uống 3 lần bột tam thất, mỗi lần từ 2-3 g, cách nhau 6-8 giờ, chiêu với nước ấm.
5. Chữa đau thắt lưng: Bột tam thất và bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều, ngày uống 4 g, chia 2 lần (cách nhau 12 giờ), chiêu với nước ấm. Thuốc cũng có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau sinh, người mới ốm dậy.
6. Chữa bạch cầu cấp và mạn tính: Đương quy 15-30 g, xuyên khung 15-30 g, xích thược 15-20 g, hồng hoa 8-10 g, tam thất 6 g, sắc uống.
7. Trong dân gian có bài Thập bổn thang gia giảm có dùng tam thất chữa bệnh băng huyết: tam thất 1g, gia cỏ mực 5g, nhỏ chảo gang 1g, muồng 1g. Thuốc sắc hoặc chế thành bột uống.
8. Đau thắt ngực do bệnh mạch vành: Tam thất 20g, đan sâm 20g sắc uống hoặc lấy nước nấu cháo. Ăn liên tục trong vài tháng.
9. Những trường hợp chảy máu bầm tím do chấn thương, ho ra máu, rong kinh rong huyết, chảy máu cam: Dùng bột hòa nước ấm uống hàng ngày, mỗi ngày 20g.
10. Tam thất còn phối hợp với kỷ tử, cúc hoa chữa các chứng bệnh về mắt.
11. Tam thất với linh chi lại tăng cường miễn dịch, chống stress, cải thiện trí nhớ.

Tam Thất Chữa bệnh Ung Thư

Tham khảo TẠI ĐÂY
Tam thất có chữa được ung thư?
 hay là
Đông y có trị được ung thư?

Theo một vị GS.BS đầu ngành về ung thư, đúng là một số bài thuốc Đông y có khả năng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, nhưng đây chỉ là hỗ trợ điều trị, chứ không thể chữa khỏi hẳn bệnh. Các bệnh nhân đang điều trị ung thư bằng phương pháp xạ trị, hóa trị sở dĩ luôn cảm thấy mệt mỏi vì lượng hồng cầu sụt giảm rất nhiều sau mỗi lần trị liệu. Trong khi đó, các bài thuốc Đông y chủ yếu là thuốc mát, có tác dụng bồi bổ sức khỏe, thậm chí tăng lượng hồng cầu nên khiến cơ thể dễ chịu tạm thời. Nhưng đây không phải là phương pháp để chữa khỏi ung thư.

PGS.BS Nguyễn Thị Bay, giảng viên khoa Y học cổ truyền Đại học Y Dược TPHCM kể trường hợp một bệnh nhân nữ 48 tuổi mắc ung thư cổ tử cung nhưng không cho phẫu thuật mà quyết định chữa theo Đông y. Các thầy thuốc Đông y đã phải ra sức thuyết phục bệnh nhân nên theo cách điều trị y học hiện đại, còn thuốc Đông y chỉ có tác dụng hỗ trợ. Cuối cùng, bệnh nhân đã chấp nhận phẫu thuật, xạ trị. Sau đó, được hỗ trợ điều trị bởi Đông y.

Đến nay, bệnh nhân đã 65 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Theo BS Bay, từ xưa thầy thuốc đã ghi nhận những trường hợp bệnh có biểu hiện lâm sàng như ung thư ngày nay. Tuy nhiên, các bệnh đã được ghi nhận đó có phải là ung thư vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào kết luận.

Qua khảo sát tư liệu, có 60 bài thuốc được sử dụng điều trị các chứng có các biểu hiện lâm sàng ung thư. Riêng về khả năng điều trị ung thư của các bài thuốc Đông y, cần phải được sàng lọc, nghiên cứu tiếp tục. Không nên khuyến khích sử dụng những phương pháp chưa được chứng minh khoa học. Thuốc Đông y chỉ có thể hỗ trợ trong trường hợp phát hiện ung thư giai đoạn muộn nhưng còn khả năng sử dụng các phương pháp điều trị của y học hiện đại.

Ở các bệnh nhân này nên điều trị bằng y học hiện đại, kết hợp thêm thuốc y học cổ truyền để hỗ trợ, khắc phục những tác dụng phụ của hóa trị hoặc xạ trị như nôn, tiêu chảy, suy kiệt... Riêng ung thư giai đoạn sớm phải triệt để tuân thủ các phương pháp điều trị bằng y học hiện đại.

Hải Minh ( Trích báo SGGP)